www.facebook.com/tinducvinhlong

Vì không là chiếc lá vô tri nên không bay theo chiều gió cuốn .............. Vì không là dòng sông lạnh lẽo nên không giấu kín lòng sâu đen ..........

LƯƠNG TÍN ĐỨC - HÀ NGUYÊN - NGUYỄN HIỀN LƯƠNG

Tóc che nửa mái hồn phiêu bạt/ Nửa mái âm âm nhuốm bụi đời.

LƯƠNG TÍN ĐỨC - HÀ NGUYÊN - NGUYỄN HIỀN LƯƠNG

Con sông nhỏ cong oằn bao nỗi nhớ/ Cánh sóng buồn cuốn biệt tuổi thơ tôi.

LƯƠNG TÍN ĐỨC - HÀ NGUYÊN - NGUYỄN HIỀN LƯƠNG

Người ở đâu về? / Từ dĩ vãng rờn xanh tuổi dại / Từ xa xôi theo những giấc mơ buồn

LƯƠNG TÍN ĐỨC - HÀ NGUYÊN - NGUYỄN HIỀN LƯƠNG

Trang blog giới thiệu Mỹ thuật, Âm nhạc, Văn học.

LƯƠNG TÍN ĐỨC - HÀ NGUYÊN - NGUYỄN HIỀN LƯƠNG

Em đi nghiêng khuất chiều xa xứ/ Lạc cánh chim ngàn quên lối xưa.

LƯƠNG TÍN ĐỨC - HÀ NGUYÊN - NGUYỄN HIỀN LƯƠNG

Tôi vẫn cứ hoài mơ / Mơ một ngày được trở về đất Vĩnh / Được thấy lại dòng Tiền Giang đỏ ngầu nước lũ / Chiều tan trường áo trắng rợp đường mơ.

LƯƠNG TÍN ĐỨC - HÀ NGUYÊN - NGUYỄN HIỀN LƯƠNG

Trang blog giới thiệu Mỹ thuật, Âm nhạc, Văn học.

LƯƠNG TÍN ĐỨC - HÀ NGUYÊN - NGUYỄN HIỀN LƯƠNG

Hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam - Hội viên Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Vĩnh Long.

LƯƠNG TÍN ĐỨC - HÀ NGUYÊN - NGUYỄN HIỀN LƯƠNG

Vách tranh che dấu điêu tàn cũ/ Se rét thu về một sớm mai

LƯƠNG TÍN ĐỨC - HÀ NGUYÊN - NGUYỄN HIỀN LƯƠNG

Thu mòn giọng lá phôi phai / Gió thêu mây lạnh mưa nhòa áo sương

LƯƠNG TÍN ĐỨC - HÀ NGUYÊN - NGUYỄN HIỀN LƯƠNG

Ở nơi đó / Tôi lớn lên bên bờ sông đất lở / Ngôi nhà xưa ủ dột mưa bay.

LƯƠNG TÍN ĐỨC - HÀ NGUYÊN - NGUYỄN HIỀN LƯƠNG

Thu mòn giọng lá phôi phai / Gió thêu mây lạnh mưa nhòa áo sương.

LƯƠNG TÍN ĐỨC - HÀ NGUYÊN - NGUYỄN HIỀN LƯƠNG

Một thời em như lá/ Vui trong mùa xuân đầy/ Quên tình anh nắng hạ/ Để thu về tình bay.

LƯƠNG TÍN ĐỨC - HÀ NGUYÊN - NGUYỄN HIỀN LƯƠNG

Một thời em lặng câm/ Tình bay theo mùa đông/ Một thời em như thế/ Để ngây thơ anh chờ.

Sunday, February 14, 2016

13. Vài kỷ niệm với Nhạc sĩ Trúc Phương - Tín Đức

VÀI KỶ NIỆM VỚI
NHẠC SĨ TRÚC PHƯƠNG



LƯƠNG TÍN ĐỨC

(http://newvietart.com/index3.3933.html) 

Năm 1984, nhạc sĩ Trúc Phương từ Duyên Hải, Trà Vinh lên Thị xã Vĩnh Long. Trong khi chờ đợi vào làm việc tại hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Cửu Long (lúc đó Vĩnh Long và Trà Vinh chưa tách tỉnh), qua sự giới thiệu của Họa sĩ Hồ Thủy, anh đến ở nhờ với chúng tôi. Thời gian đó, chúng tôi thuê nhà của chú Tư Lưu ở hẻm 25 (hẻm Lò bánh mì Phước Thành), đường 30-4 (đường Tống Phước Hiệp cũ).
Gọi là “nhà” cho sang, chứ đó chỉ là một căn phòng nhỏ vỏn vẹn khoảng 8m2, nằm cặp sát mé sông Long Hồ, một nhánh của sông Cổ Chiên. Khi anh đến ở chung, sau khi hỏi ý chủ nhà, vợ tôi -Hà- đã chà rửa sạch cái chuồng heo cũ ở kế bên phòng của chúng tôi (trước đó chủ nhà nuôi heo ở đó), rồi lấy mấy tấm bảng hiệu cũ trải lên để làm chỗ ngủ cho anh. Ít lâu sau, hai em Long và Sơn là học trò học vẽ của tôi cùng đến ngủ chung với anh tại chuồng heo này!
Những ngày ấy, dù cuộc sống còn thiếu thốn nhiều nhưng rất vui. Sau các bữa cơm tối, đêm đêm, chúng tôi ngồi quây quần bên bếp củi nấu nước uống trà, uống café, đàn ca hát xướng… Bạn bè văn nghệ cũng thường xuyên đến chơi rất đông. Có những người quen cũ của anh như nhà văn Sơn Nam (cùng đi với nhà văn Lý Lan), nhạc sĩ Trần Thiện Thanh (tức Nhật Trường), ca sĩ Duy Khánh…cũng đã từng đến thăm anh tại nơi này!
Thời gian này, theo sự đề nghị của tôi, Trúc Phương đã chép lại phần lớn nhạc của anh đã soạn trước 1975 để tặng cho tôi. Chữ viết của anh rất đẹp, anh thường dùng viết Bic màu đen để chép tay từng bản nhạc. Người bạn vong niên này của tôi cũng đã góp ý và trao đổi rất nhiều về kinh nghiệm soạn nhạc cho tôi… Anh cũng thường tâm sự với chúng tôi về những trải nghiệm trong cuộc sống, về những tháng ngày gian nan sau 1975 của anh. Anh kể: “ Sau 75, khi anh và vợ anh chia tay nhau (vợ anh là người Khmer lai Pháp), tài sản của anh vỏn vẹn chỉ có cái giỏ đệm đựng mấy bộ đồ, phải đi chân đất vì không có đôi dép mủ để đi…”
Share:

12. Cái Đẹp Trong Sự Hài Hòa Chung

Hội họa là một trong những loại hình nghệ thuật xuất hiện lâu đời nhất trên trái đất. Ngay từ thời tiền sử, tổ tiên ta không những đã biết dùng nó để làm phương tiện thông tin, liên lạc với nhau, mà còn sử dụng các đường nét, hình khối ấy để giải trí sau những giờ lao động. Những bức bích họa trong các hang động ở vùng Lưỡng Hà, hay lưu vực sông Trường Giang trên đất nước Trung Hoa, cùng với văn tự mang tính chất tượng hình của người Ai Cập hoặc Trung Quốc cổ đại, mà cách thể hiện văn tự này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay đã minh chứng cho điều đó!
Share:

11. Nguồn Gốc Lễ Vu Lan Trong Văn Hóa Dân Gian


(Ảnh nguồn: trithucvaphattrien.vn)

Lễ Vu Lan chính thức được bắt nguồn từ một bản kinh ngắn của Phật giáo Đại Thừa: “Phật Thuyết kinh Vu Lan Bồn” do ngài Trúc Pháp Hộ dịch từ chữ  Phạn sang chữ Hán vào đời Tây Tấn (khoảng năm 750-810 sau CN) và được truyền vào Việt Nam không rõ năm nào! Được xuất phát từ giáo lý nhân sinh của Phật Giáo, mục đích thể hiện chữ hiếu của con người. Đồng thời, cũng thể hiện tấm lòng vị tha đối với những linh hồn bơ vơ, không nơi nương tựa.
Chữ “Vu Lan” có nguồn gốc từ chữ Phạn “Ulambana”, dịch ra chữ Hán là “Giải đảo huyền”. Giải: có nghĩa là gỡ ra khỏi vướng mắc, cởi trói buộc, giải mê lầm; đảo: ngược, (còn có nghĩa là những hành động điên đảo, sai lầm); huyền: treo. “Giải đảo huyền” có ý nghĩa sâu xa là giải thoát khỏi những nỗi phiền não, những dây luyến ái đã từng trói buộc tham sân si.
Lễ Vu Lan còn có tên là “Vu Lan Bồn”. Chữ “bồn” có nghĩa là chậu, dùng để diễn nghĩa chậu thc ăn dâng cúng. Lễ “Vu Lan” hay “Vu Lan Bồn” có nghĩa là lễ dâng cúng thức ăn lên Tam bảo để xin chú nguyện cho ông bà, cha mẹ, những người quá cố trong bảy đời (tức là cửu huyền thất tổ). Truyền thuyết dân gian cho rằng, khi còn sống ở trần gian, nếu ai đã làm điều gì tội lỗi, thì khi chết đi sẽ bị đọa vào địa ngục. Thế nhưng, nếu như được sự dâng cúng, chú nguyện, người đó sẽ được nhờ ân đức Tam bảo, thoát ra khỏi địa ngục, sanh về cõi trời an lành khác.

Share:

10. Tìm Hiểu Về Vệ Đà Giáo Và Bà La Môn Giáo

*Tổng hợp từ các tài liệu bằng nguyên bản tiếng Anh



(Ảnh: Wikipedia) 


Vệ Đà giáo và Bà La Môn giáo (hay Ấn Độ giáo) là hai tôn giáo có nguồn gốc xuất xứ từ Ấn Độ.

SƠ LƯỢC VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ ĐẤT NƯỚC ẤN ĐỘ

Lịch sử Ấn Độ bắt đầu với thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn, một nền văn minh phát triển hưng thịnh tại phần Tây Bắc tiểu lục địa Ấn Độ từ năm 3300 đến 1700 trước Công nguyên (TCN). Nền văn minh thời đại đồ đá này được nối tiếp bởi thời đại đồ sắt thuộc thời kỳ Vệ Đà, thời kỳ đã chứng kiến sự nở rộ của các vương quốc lớn được biết đến với cái tên Mahajanapadas. Giữa hai giai đoạn này, vào thế kỷ thứ VI TCN, Mahavira và Thích Ca Mâu Ni ra đời.

Tiểu lục địa Ấn Độ được thống nhất dưới vương triều Maurya trong suốt hai thế kỷ III và IV TCN. Sau đó, nó lại tan vỡ và rất nhiều phần bị thống trị bởi vô số những vương quốc thời Trung cổ trong hơn mười thế kỷ tiếp theo. Những phần ở phía Bắc được tái hợp một lần nữa vào thế kỷ thứ IV sau Công nguyên (SCN) và duy trì được sự thống nhất này trong hai thế kỷ, dưới thời của vương triều Gupta. Đây được coi là thời kỳ hoàng kim của Ấn Độ. Trong suốt thời kỳ này và vài thế kỷ sau đó, Ấn Độ bị thống trị bởi các vương triều Chalukya, Chola, Pallva và Pandya và trải qua giai đoạn vàng son của mỗi thời kỳ. Cũng trong thời điểm này, đạo Hindu và đạo Phật đã lan tỏa tới rất nhiều vùng tại Đông Nam Á. 

Share:

9. Sơ lược về lịch sử Phật Giáo Việt Nam từ thượng cổ đến cận đại


SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TỪ THƯỢNG CỔ ĐẾN CẬN ĐẠI
Bài viết sưu tầm của Hà Nguyên

                                   Tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Hiện vẫn chưa xác định chính xác thời điểm đạo Phật bắt đầu truyền vào Việt Nam từ lúc nào. Dựa trên giả thiết, có một nghiên cứu cho rằng Phật giáo Nguyên thủy truyền vào Giao Chỉ  trong khoảng từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên bằng truyện “Nhất dạ trạch” trong tập “Lĩnh Nam trích quái” của Nguyễn Dữ đời Trần kể lại việc Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung được học đạo Phật với một nhà sư tên là Phật Quang.
Theo tác phẩm “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang, trong hai thế kỉ thứ I và thứ II sau Công Nguyên, ngoài hai trung tâm Phật giáo tại Trung Quốc là Lạc Dương và Bành Thành, còn một trung tâm thứ 3 xuất hiện tại Luy Lâu, thuộc Giao Chỉ (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam), Có người cho rằng, Luy Lâu đã được hình thành trong đầu thế kỉ thứ I, sớm hơn cả Lạc Dương và Bành Thành. Có một điều chắc chắn là trung tâm Luy Lâu này đã được hình thành từ các tăng sĩ đến từ Ấn Độ, chứ không phải từ Trung Quốc.
Sau đó, sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam cùng do cả 2 con đường: đường biển từ phía Nam lên và đường bộ từ phương Bắc xuống.
Vào năm 189 sau Công Nguyên, tác phẩm về Phật giáo đầu tiên “Lý hoặc luận” được nhà truyền giáo đầu tiên là Mâu Tử (hay Mâu Bác) viết tại đất Giao Chỉ. Đến năm 247 sau Công Nguyên, thiền sư Khương Tăng Hội (có cha gốc là người Khương Cư - Ấn Độ)  là vị thiền sư người Việt đầu tiên sang Đông Ngô -một trong ba nước thời Tam Quốc-  truyền đạo. Năm 580, thành lập Thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi và thành lập Thiền phái Vô Ngôn Thông năm 820. Dần dần, đạo Phật càng lúc càng thâm nhập vào dân chúng và chịu ảnh hưởng bởi Phật giáo phương Bắc. Có một điều đáng ngạc nhiên là, mặc dù Phật giáo Trung Quốc có đến 10 tông phái*, thế nhưng chỉ có Thiền tông là được truyền sang nước ta trước nhất và mạnh mẽ nhất!
Sau giai đoạn 1000 năm Bắc thuộc, nước ta hoàn toàn độc lập vào năm 939. Các vương triều Đinh, Tiền Lê, Hậu Lý và nhà Trần đều xem Phật giáo là Quốc giáo. Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng ban chức “Tăng thống” đầu tiên cho Thiền sư Khuông Việt (tức Ngô Chân Lưu). Vua Lê Đại Hành mời Thiền sư Pháp Thuận (hay Đỗ Thuận) và Vạn Hạnh làm cố vấn về chính trị. Năm 1009, nhà Lý ra đời, mở đầu cho thời cực thịnh của Phật giáo tại Việt Nam kéo dài khoảng 400 năm. Các vị vua thời Lý đều tôn sùng đạo Phật và lấy đạo từ bi làm phương pháp trị nước. Vào năm 1069, thành lập Thiền phái Thảo Đường. Trong thời gian này, Phật giáo Đại thừa với các tạng kinh: Kim cương, Dược sư, Pháp hoa, Viên giác… được truyền tụng.

Share:

8. Ý Nghĩa Của Sự Giác Ngộ Trong Phật Giáo


(Tượng: Hòa Thượng Tịnh Sự tại Chùa Viên Giác 
Vĩnh Long do Tín Đức thực hiện)


Giác ngộ là gì?
Giác ngộ là một quá trình chuyển hóa toàn diện của một con người xảy ra ở bốn phương diện, đó là: tri thức, tình cảm, thái độ và cách cư xử.

Theo từ nguyên, Phật (Buddha) có nghĩa là người giác ngộ, người tỉnh thức hoàn toàn khỏi các ràng buộc và chấp thủ của thế gian. Và sự giác ngộ (bodhi) là sự tỉnh thức về các hiện hữu và đời sống bằng con mắt của lý nhân duyên.

Xuất phát từ kinh nghiệm giác ngộ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni Buddha) và bằng những nỗ lực tích cực của bản thân thông qua con đường thiền định và quán chiếu, Đức Phật đã trở thành một bậc giác ngộ tối thượng đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Sau khi tự mình thực chứng con đường giác ngộ, Đức Phật đã hướng dẫn chúng sinh một cách khéo léo và tỉ mỹ những kinh nghiệm giác ngộ của Ngài và con đường đã đưa Ngài đạt đến mục đích!

Giác ngộ đầu tiên là sự chuyển hóa về tri thức: sự ngu muội được thay thế bằng tuệ giác. Kế tiếp là sự chuyển hóa tình cảm: thái độ sợ hãi và lo âu được thay thế bằng sự an tịnh, đau khổ bằng hạnh phúc. Thứ ba là sự chuyển hóa trong thái độ: cố chấp được thay thế bằng cởi mở. Và thứ tư là sự chuyển hóa trong cách cư xử: sự tước đoạt được thay thế bằng sự ban cho, sự lười biếng bằng sự năng động và sự phá hoại bằng sự kiến tạo.

Share:

7. Tư Tưởng Của Triết Học Phật Giáo - Hà Nguyên

Tư Tưởng Ca Triết Hc Pht Giáo
Bottom of Form

                                                           


      Đạo Phật có phải là một tôn giáo hay không? Đó là một câu hỏi chưa ai có lời giải đáp cụ thể khi đạo Phật ngày nay được xem là một trong những tôn giáo lớn nhất thế giới; và đã đóng vai trò vô cùng quan trọng cũng như chịu sự ảnh hưởng trong bối cảnh lịch sử và văn hóa của truyền thống tôn giáo và triết học Đông phương.

Share:

6. Một số nhận xét về Phật Giáo Nam Tông và Phật Giáo Bắc Tông - Hà Nguyên






Trước đây, người ta thường cho rằng giáo lý Nguyên Thủy là giáo lý Tiểu Thừa không đưa đến quả vị tối hậu thành Phật, mà chỉ có giáo lý Đại Thừa mới là giáo lý chân chính của Phật giáo. Ngược lại, một số khác lại cho rằng giáo lý Nguyên Thủy mới chính truyền là của Phật, còn giáo lý Đại Thừa là ngoại đạo. Sự bất đồng quan điểm ấy đã làm băng giá mối quan hệ cả hai truyền thống đến hàng ngàn năm!
Ngày nay, với những phương tiện tiến bộ, quan điểm như thế về Tiểu Thừa và Đại Thừa đã không còn thích hợp! Phần lớn các nhà nghiên cứu Phật giáo đều chấp nhận một số tư tưởng Đại Thừa là những tư tưởng của Phật giáo Nguyên Thủy. Nếu chúng ta chịu khó so sánh bốn tập A Hàm của Trung Quốc với các tập Pàli Nikàya tương đương, chúng ta sẽ thấy có nhiều đoạn văn A Hàm lại nguyên thủy hơn các đoạn văn Pàli.
Thái độ của một số Phật tử Đại Thừa xem tư tưởng Tiểu Thừa là thiển cận, nhỏ hẹp, không đáng học hỏi, cũng như phủ nhận ba tạng Pàli, bốn bộ A Hàm và các Luật, Tạng không phải là những tinh hoa tốt đẹp và nguyên thủy nhất của lời Phật dạy, cũng là một thái độ nguy hiểm, nông nổi, nếu không phải là ngây thơ, phản tri thức!

Share:

5. Chúng ta nên hiểu về Đạo Phật như thế nào? - Hà Nguyên

CHÚNG TA NÊN HIỂU VỀ ĐẠO PHẬT
 NHƯ THẾ NÀO?

                                                                        Bài viết của Hà Nguyên
                                                                   Tặng chị Kim Hương


Đạo Phật không phải là một tôn giáo hay một tín ngưỡng thuần túy, mà là một hệ thống tư tưởng thống nhất! Chúng ta có thể khẳng định điều này, bởi vì tất cả giáo lý Phật giáo đều là nền tảng cho việc xây dựng một con người giác ngộ, vị tha, xem cuộc sống là lý tưởng cao quý của đời mình với tâm hồn từ, bi, hỷ, xả!
Đặc điểm lớn nhất của người khai sáng cho Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni -một nhân vật lịch sử có thật-, là không bao giờ tự nhận mình là người duy nhất đem lại sự giải thoát cho loài người. Ngài đã từng nói: “Con người ai ai cũng có Phật tính. Trước Người, đã có hằng hà sa số Phật!”

Share:

4. Bàn Về Vấn Đề Vô Ngã Trong Phật Giáo

Bàn V Vn Đ Vô Ngã
Trong Pht Giáo
Bottom of Form
      Hàng ngày, thỉnh thoảng ta bắt gặp hình ảnh các vị sư sãi đi khất thực trên đường phố. Họ làm như thế với mục đích gì?

     Đối với các tỳ-kheo, việc khất thực có những điều lợi ích: tâm trí được rảnh rang, ít phiền não, không bận rộn tâm và thân vì sinh kế, đoạn trừ tâm kiêu căng, ngã mạn; đồng thời, tín chúng có thể tùy theo phương tiện mà hỷ cúng, có thể tùy lúc tùy nơi để thân cận Tam Bảo. Và điều quan trọng hơn cả là để diệt ngã.

NGÃ LÀ GÌ? TẠI SAO CẦN PHẢI DIỆT NGÃ?
   Mỗi tôn giáo hay một quan điểm triết học đều có những định nghĩa khác nhau về ngã.
   Theo tiếng Việt, “ngã” hay “bản ngã” có nghĩa là “cái tôi” hoặc “cái ta”. Tương tự như thế, triết học Tây phương gọi ngã là “ego”. Tiếng Pháp gọi ngã là “le moi”. Tiếng Anh là “myself”. Tiếng Sanskrit gọi ngã là “atman”.  Một cách tổng quát, ngã có nghĩa là một thực thể (tức là một cái gì có thật) trường tồn, và là một phần của con người, là một cái tôi tuyệt đối riêng biệt, không ai thay thế được. Là phần làm chủ và trách nhiệm mọi tư duy, tình cảm, ý chí, hành động của con người.
    Nói cách khác, ngã là một nhóm của những chức năng tinh thần hay quá trình cho phép chúng ta tri giác, lý luận, phán đoán, chứa đựng những ký ức và giải quyết nhiều vấn đề khác nhau. Bản ngã là một phần của nhân cách trong sự giao tiếp với thế giới bên ngoài.
    Cơ Đốc giáo lại gọi ngã theo một ý nghĩa khác có tên là “soul” (có nghĩa là linh hồn).
    Thế nhưng, theo quan điểm của Phật Giáo, tất cả những khái niệm về ngã như thế đều không đúng! Đối với triết học Phật Giáo, một ngã như thế là không có thật, mọi quan niệm về ngã chỉ là ảo tưởng, mọi nhận thức về ngã chỉ là ảo giác. Vạn vật, kể cả “cái ta” cũng không có thật, không có tự tánh, không thể nắm bắt, không sinh không diệt. Sự sinh và diệt mà chúng ta thấy mỗi ngày chỉ là sự sinh và diệt của những ảo ảnh.

Share:

3. Bàn Về Vấn Đề Nghiệp Quả

      Khái niệm và niềm tin về Nghiệp đã có mặt trong triết học Ấn Độ trước khi Đức Phật ra đời, nhưng chính Đức Phật đã giảng dạy và hoàn chỉnh học thuyết này!
Vì không hiểu nổi sự khác biệt nhau giữa những con người, một Bà la môn trẻ tên là Subha đã đến gặp đức Phật và nhờ Ngài giải thích nguyên nhân của sự bất tương đồng : nguyên nhân và những điều kiện nào mà loài người, có người ưu, người nhược; người hơn , người kém? Có người sống lâu, có người chết trẻ; có người bệnh yếu, có người khoẻ mạnh,; có người đẹp, người xấu; có người có quyền, có người không có quyền; có người nghèo, có người giàu; có người sanh ra hạ tiện, có người sanh ra cao quý; có người ngu, có người khôn?
Đức Phật đã trả lời rằng: "Tất cả chúng sinh đều là chủ nhân của những hành động của mình, là người thừa hưởng của những hành động của mình, chúng sinh khởi sinh (đầu thai) từ những hành động của mình, chúng sinh đều liên quan với những hành động của mình, có những hành động của mình làm nơi nương tựa cho mình. Đó là hành động (nghiệp) làm cho chúng sinh hơn kém khác nhau".

Share:

Saturday, February 13, 2016

2. Vẽ 2


Share:

1. Vẽ 1

Share:
Powered by Blogger.

Tin về Hà Nguyên


TÁC GIẢ HÀ NGUYÊN CÓ TÁC PHẨM DO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI BÌNH CHỌN “TRUYỆN NGẮN HAY ĐƯỢC ĐỌC NHIỀU NHẤT 2015” Vừa qua, Hà Nguyên, một cây bút nữ hiện ngụ tại Phường 1, Thành phố Vĩnh Long, là cộng tác viên thường xuyên của báo Vĩnh Long và một số báo ở đồng bằng sông Cửu Long đã được cộng đồng người Việt hải ngoại bình chọn tác phẩm “Chuyện nhỏ ở xóm Cồn” của chị là truyện ngắn viết bằng Việt ngữ được đọc nhiều nhất năm 2015. Truyện ngắn “Chuyện Nhỏ Ở Xóm Cồn” được đăng lần đầu tiên trên báo Vĩnh Long. Sau đó, qua đường truyền của Vĩnh Long Online, truyện ngắn này được cộng đồng người Việt ở các nước Nga, Mỹ, Đức, Hungary, Canada, Pháp, Tây Ban Nha, Australia… truyền tải và phổ biến. Lấy cảm hứng từ cuộc sống nông thôn Nam Bộ với bút pháp bình dị nhưng không quê mùa, chứng tỏ tác giả có sự trau chuốt ngôn từ rất cẩn thận, Hà Nguyên đã đưa cái chân quê Nam Bộ vào trong truyện ngắn này để tạo ra nét đặc thù rất riêng. “Chuyện nhỏ ở xóm Cồn” kể về sinh hoạt của những người bần cùng, đa phần sống bằng nghề hạ bạc trên một cù lao nhỏ nằm trên dòng Tiền giang ở giai đoạn những năm 50 của thế kỷ trước. Một ngày nọ, có một gánh hát thuật sơn đông gồm một anh chàng cổ quái nhưng đa tài cùng với hai đồ đệ là con chó cò và con khỉ nhỏ đến diễn trò và bán thuốc sơn đông. Từ đó, cuộc sống êm đềm của những người bần cùng trên cù lao này dần dà trở nên thay đổi… Ngoài truyện ngắn trên, Hà Nguyên còn sáng tác một số truyện ngắn, tạp văn, khảo cứu… và ở lĩnh vực nào, chị cũng thành công. Có được thành quả như thế, có lẽ nhờ vào vốn sống ngồn ngộn của chị! Từ một cuộc sống trưởng giả, cuộc đời chị đã từng trải qua nhiều thăng trầm, đắng cay, bất hạnh… Trong quá khứ, chị từng làm rất nhiều nghề: phóng viên, chủ cơ sở kinh doanh, dạy ngoại ngữ, phân loại rác cầu tiêu cho một cơ sở tái chế giấy, bán vé số dạo, dọn dẹp nhà vệ sinh trong vũ trường… Thời gian bán vé số dạo và làm tạp vụ trong vũ trường, chị quen biết và kết thân với những người sống ở tận đáy xã hội, những người nghèo khổ buôn gánh bán bưng, thậm chí cả dân giang hồ tứ chiếng. Quãng thời gian này, đêm nào chị cũng lê la khắp cùng khu vực chợ Vĩnh Long, từng ăn “cơm ma”, “hủ tiếu ma”, uống cà phê “phố đêm”… những nơi mà có thể những người sống cả đời ở thành phố Vĩnh Long chưa chắc biết! Và vốn sống thứ hai của Hà Nguyên là chị có học qua một số ngoại ngữ như Anh, Pháp, Đức, Nga, Hán, Pãli, nhờ thế là phương tiện làm cầu nối để chị tiếp cận với văn học nước ngoài. Chị cũng đã từng học qua Đại học Phật giáo tại Học viện Phật giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, học khoa Thần học bên Thiên chúa giáo tại Fatima Vĩnh Long. Hiện tại, chị đang là giáo viên dạy Năng khiếu tại Trung tâm Hoạt động Thanh Thiếu niên tỉnh Vĩnh Long.